Công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt
Bây giờ chúng ta sẽ đi vào bài viết công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt phù hợp. Bài viết này chúng ta sẽ dành cho đối tượng khách hàng là kỹ thuật đang tìm hiểu về công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt phù hợp và sinh viên ngành môi trường.
Bài viết sẽ giải quyết bốn câu hỏi.
- Thứ nhất, ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Taiwan, Thái Lan, họ đang ưu tiên công nghệ nào để xử lý nước thải sinh hoạt, tiêu chí mà họ lựa chọn?
- Thứ hai, chuyện gì sẽ ra nếu chúng ta lựa chọn sai công nghệ?
- Thứ ba, Việt Nam nên đi tiên phong hay có thể “copy khôn khéo” sự lựa chọn của các nước mà chúng ta đã xác định họ đã có được thành tích?
- Thứ tư, lời của tác giả đối với bạn đọc là gì?
Nào, bây giờ chúng ta sẽ đi thứ tư từng câu một nhé. Đầu tiên, tôi muốn đi vào câu số bốn trước tiên vì tôi thấy câu này liên quan tới kinh nghiệm của tôi trong quá trình 22 hành nghề nước thải.
Lời của tác giả đối với bạn đọc là gì?
Công nghệ xử lý nước thải cũng cải tiến liên tục giống như iPhone nhằm đáp ứng sự thay đổi của quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. Và một điều thú vị là nước thải sinh hoạt của con người ngày càng nhiều đạm hơn khi cuộc sống chúng ta dư thừa thực ăn giàu protein.
Công nghệ đang cải tiến theo hướng giảm phú nhưỡng hóa và đối tượng nhắm đến là hiệu suất xử lý của vi sinh, kỵ khí, thiếu khí, hiếu khí.
Các kỹ sư thường được giám đốc giao đề bài tính toán hệ thống xử lý nước thải với một khoản chi nhất định, tức là một mức đầu tư nhất định. Các kỹ sư thường tập trung tìm kiếm các giải pháp rẻ tiền, thiết bị rẻ tiền.
Và kết quả là sẽ gặp rất nhiều rắc rối. Về sau, nước thải không đạt quy chuẩn dẫn tới các tình huống phạt cao về vi phạm nước thải, sự điều tra nội bộ sẽ xảy ra và kỹ sư thường phải đối diện với nhiều chỉ trích, thậm chí là đối diện với nguy cơ ngành nghề.
Như vậy, khi kỹ sư nhận được đề bài của lãnh đạo về việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải và với một khoản đầu tư nhất định, hãy tiến hành theo các trình từ sau:
Thứ nhất, tìm hiểu công nghệ và chỉ rõ những giới hạn mà một công nghệ sẽ phải đối diện. Nó không thể giải quyết được tốt hơn năng lực của nó.
Sau khi chắc chắn về dây chuyền xử lý, công nghệ xử lý, lúc đó chúng ta mới tiếp tục tìm kiếm các thiết bị tính toán thể tích bể, lựa chọn nhà thầu đáp ứng về công nghệ, đáp ứng về thiết bị, đáp ứng về công nghệ, đáp ứng về công năng để xử lý.
Sau đó chúng ta mới dẫn dắt về tổng mức đầu tư. Tổng mức đầu tư này có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng với tổng mức đầu tư mà lãnh đạo đề ra.
Tuy nhiên, đề cập về tổng mức đầu tư. Vị lãnh đạo thường để lấy móc giúp kỹ sư nỗ lực tìm hiểu các giải pháp đáp ứng đề bài đề ra.
Trong đề bài mà lãnh đạo giao tiềm ẩn BỐN yếu tố rõ ràng. Thứ nhất, hoàn thành hệ thống xử lý thải. Thứ hai, đảm bảo đạt được tổng mức đề ra. Thứ ba, lãnh đạo luôn hướng tới sự an toàn pháp lý. Và chắc chắn khi ở vai trò lãnh đạo luôn luôn hướng tới một định hướng bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Vì vậy, kỹ sư nên nhắm tới cân bằng giữa các yếu tố trên, không nhất nhất rập khuôn nhìn vào tổng mức đầu tư được giao. Trong một số và đa phần các trường hợp, tổng mức đầu tư sẽ chênh lệch.
Tuy nhiên, bằng khả năng giao tiếp, hãy chứng minh giới hạn cho khoản đầu tư hệ thống xử lý nước thải nhằm đạt được sự ổn định pháp lý môi trường, nhằm đảm bảo được ý chí bảo vệ môi trường phát triển bền vững của lãnh đạo. Sau đó, cùng với lãnh đạo lựa chọn lại tổng mức đầu tư phù hợp. Lúc đó, lãnh đạo sẽ đề cập đến cho bộ phần tài chính để giữ phòng quỹ đầu tư.
Vậy, thông điệp ở đây là gì?, Hãy vạch ra lộ trình khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên.
Câu hỏi tiếp theo mà chúng ta muốn giải quyết đó là…
Nhật, Hàn, Đài Loan, Thái Lan ưu tiên công nghệ nào, tiêu chí lựa chọn của họ?
Tất nhiên, chúng ta sẽ thấy các nước có kinh tế phát triển trước, họ ưu tiên giải pháp 2 hướng. Hướng thứ nhất, tập trung xử lý ở các trạm xử lý tập trung khổng lồ. Thứ hai, họ sẽ giải quyết các điểm phát thải xa khu vực tập trung bằng các module xử lý nước thải.
Với những công nghệ tiên tiến nhất để đối ứng với các thay đổi về quy chuẩn và hệ thống xử lý nước thải luôn được thiết kế với tuổi thọ trên 10 năm. Như vậy, họ sẽ sẵn sàng cho một lộ trình thay đổi về pháp lý và công nghệ kỵ khí, thiếu khí, hiếu khí, MBR là sự lựa chọn hầu như tuyệt đối ở các nước phát triển. Tiêu chí mà họ đặt ra đó là an toàn về pháp lý.
Thứ hai, sự ổn định của hệ thống nhằm đảm bảo bảo vệ môi trường, phát triển miền vững. Thứ ba, tiết kiệm diện tích và chi phí đầu tư ở mức được hoạch định ngay từ khi thiết lập dự án sẵn sàng.

Sơ đồ công nghệ & phối cảnh hệ thống XLNT Sinh hoạt
Tiếp theo, chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn sai công nghệ?
Bất kỳ công nghệ nào đều đối diện với một năng lực tối đa của nó.
Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ Aerotank không thể đưa nước thải sinh hoạt về với mức có thể uống được vì giới hạn của nó không thể đạt mức này. Tương tự như vậy, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt cũng phải đối diện với khả năng tối đa của mình. Với QCVN 14:2025, công nghệ xử lý nước thải “hầm từ hoại + Aerotank + lắng” sẽ không còn phù hợp đối với QCVN 14:2025 vì cường độ rủi ro.
Số lần gặp sự cố bùn nỗi thoát ra ngoài, cấy lại vi sinh, hàm lượng vi sinh trong bể thấp, không ổn định. Với những nhược điểm đó, công nghệ truyền thống đã đối diện với điểm tối đa của mình. Các dự án mới, các nhà thầu, các đơn vị thiết kế và cả chủ đầu tư hầu như đã mặc định công nghệ MBR làm đề bài để xây dựng hệ thống, để nâng cấp hệ thống.
Tiếp đến, chúng ta sẽ giải quyết câu thứ 3.
Việt Nam nên đi trước hay có thể copy khôn khéo các nước mà chúng ta đã nhìn nhận họ thành công?
Ở phạm vi này, mục tiêu của Việt Nam chúng ta là phát triển kinh tế và phát triển bền vững. Việc copy công nghệ của các nước và áp dụng vào Việt Nam đã là một sự ứng dụng khôn khéo. Ở đây, chúng ta có thể đầu tư những hạ tầng nghiên cứu để cải tiến công nghệ, để thu hút đầu tư, để bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ, dẫn đầu như bán dẫn.
Riêng về góc độ XLNT, các kỹ sư nước thái, các kỹ sư môi trường nên dành tối đa thời gian để ứng dụng các công nghệ mà các nước phát triển đã thành công, áp dụng nó cho Việt Nam đã là một sự thành công lớn. Trong khi nguồn lực về kỹ sư môi trường ở Việt Nam không nhiều. Cho nên đây là một sự lựa chọn phù hợp. Thay vì chúng ta dành cả chục năm để nghiên cứu công nghệ mới, chúng ta chỉ mất 1-2 năm để nghiên cứu ứng dụng công nghệ phù hợp và ứng dụng nó phù hợp vào môi trường của chúng ta.
Tác giả bài viết: Kỹ sư Phạm Minh Tuấn
Kỹ thuật hỗ trợ trong việc đưa bài viết lên website: Mai Vũ Bảo Long



